Lưu trữ cho từ khóa: ông vua nhạc sến việt

nhạc sĩ Trúc Phương, ông hoàng của dòng nhạc Bolero

Trúc Phương là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng của dòng nhạc sến Việt Nam. Ông đã sáng tác rất nhiều ca khúc nổi tiếng, những sáng tác của ông được mọi người vô cùng yêu thích.

Trúc Phương là nghệ danh của Nguyễn Thiên Lộc, ông sinh năm 1933 tại Trà Vinh. Thuở nhỏ do gia cảnh nghèo khó ông không được đi học đàng hoàng. Nhưng ông có niềm đam mê âm nhạc từ bé, vì vậy Trúc Phương mày mò rồi tự học guitar và tập tễnh sáng tác. Lúc mới bắt đầu sáng tác nhạc, ông lấy nghệ danh của mình là Trúc Phương, ông giải thích: vì quê hương ông hồi đó có nhiều rặng trúc bao quanh nên ông lấy tên là Trúc Phương để cho lòng mình luôn nhớ về quê hương.

nhạc sĩ trúc phương qua lời kể của Trần quốc bảo
nhạc sĩ Trúc Phương qua lời kể của Trần Quốc Bảo

 

Ông tham gia sinh hoạt văn nghệ ở quê hương một thời gian rồi lên Sài Gòn học nhạc. Ban đầu ông học nhạc ở nhạc sĩ Trịnh Hưng, trong lớp học nhạc của ông hồi đó có các ca sĩ nổi tiếng là Thanh Thúy và Ánh Tuyết. Vừa học nhạc, Trúc Phương vừa sáng tác. Năm 1957, những sáng tác đầu tay:Tình thương mái lá, Tình thắm duyên quê ra đời, mọi người mới bắt đầu biết đến ông.

Tiếp theo là những bài hát Chiều làng emĐò chiều… Và đăch biệt là bài Tàu đêm năm cũ mà Trúc Phương viết dành tặng cho những người chiến sĩ những năm đầu thập niên 1960. Bài hát là cảm xúc của những người chiến sĩ phải đi xa, xa gia đình, xa người thân. Cũng là tâm tư của người nhạc sĩ về một đất nước đang trong thời chiến.

nhạc sĩ trúc phương
Nhạc sĩ Trúc Phương

Sau biến cố xảy ra năm 1975, nhạc sĩ Trúc Phương nhiều lần vượt biên nhưng không thành công, ông phải vào tù, cuộc sống của ông lúc này gặp nhiều khó khăn, vợ con li tán… Ông tiếp tục sáng tác nhạc, tuy vậy, các bài hát đều không được thành công như trước kia. Ông tâm sự, ông không còn cảm hứng dạt dào như trước năm 1975 nữa.

Các ca khúc của Trúc Phương được đón nhận ở khắp các nơi trong nước và cả bên hải ngoại. Có hai ca sĩ trình bày thành công những bài hát của Trúc Phương đó là ca sĩ Chế Linh và ca sĩ Đan Nguyên. Các ca khúc Kẻ ở miền xaNửa đêm ngoài phố, Thói đời, Buồn trong kỷ niệm, Hai lối mộng, … là những bài hát tiêu biểu cho sáng tác của Trúc Phương sau năm 1975. Trước khi mất vào năm 1995, Trúc Phương đã sáng tác bài Xin cám ơn đời như muốn gửi gắm tâm tình của mình vào đó.

kẻ ở miền xa - Trúc Phương
Kẻ ở miền xa – Trúc Phương

Nhạn trắng Gò Công – ca sĩ Phương Dung

Là một trong những ca sĩ nữ nổi tiếng của dòng nhạc quê hương trong những năm 1960 – 1970 ở miền Nam Việt Nam. Phương Dung đã được người yêu nhạc vàng đặt cho danh hiệu Nhạn trắng Gò Công.

Năm 1946 nữ ca sĩ Phương Dung ra đời tại vùng đất Gò Công của tỉnh Tiền Giang. Cô tên thật là Phan Phương Dung. Sinh ra tại Tiền Giang nhưng Phương Dung sớm lên Sài Gòn học, cô học trường nữ sinh Gia Long, ngôi trường lớn nhất thời bấy giờ. Tại đây, bà vừa đi học, vừa tham gia vào các chương trình ca hát khi mới chỉ 11 tuổi.

Bước chân vào con đường ca hát từ khi còn rất nhỏ, cũng không sinh ra trong một gia đình nghệ sĩ, Phương Dung ý thức được rằng con đường ca hát của mình sẽ không được dễ dàng. Lần đầu tiên đạp xe đi nộp đơn dự thi một cuộc thi ca nhạc, lúc bấy giờ Phương Dung rất hồi hộp, ngày đó bà rất thần tượng nữ ca sĩ Thanh Thúy, nữ ca sĩ nổi tiếng nhất lúc đó. Và bà mong muốn được nổi tiếng như vậy.
ca sĩ Phương Dung với đĩa hát của mình Trong cuộc thi ca hát lần đầu tiên bà tham gia, tuy không được giải cao nhưng Phương Dung cũng may mắn nhận được lời mời đi hát ở một số tụ điểm ca nhạc. Sau khi hát bài Nỗi buồn gác trọ của nhạc sĩ Hoài Linh, bà trở lên nổi tiếng. Từ đó có rất nhiều phòng trà và vũ trường mời Phương Dung cộng tác. Các ca khúc Đố ai, Hoa nở về đêm, Những đồi hoa sim, Vọng gác đêm sương… là những ca khúc mà được hát nhiều ở các vũ trường thời điểm đó.

Theo lời Phương Dung chia sẻ, người đi xem bà hát nhiều lắm, thu nhập của bà lúc đó gấp 50 đến 60 lần lương của một giáo viên dạy cấp 2. Đi hát được nhiều tiền nhưng lúc nào Phương Dung cũng nghe lời cha mình dạy về 2 chữ Tài và Đức cần phải gắn liền với nhau. Và trong cuộc đời của mình, đến tận bây giờ vẫn còn có rất nhiều người hâm mộ và quý mến Phương Dung, điều đó chứng tỏ bà đã làm được điều cha mình dạy.

Sau năm 1975, Phương Dung có cộng tác với các trung tâm ca nhạc hải ngoại. Một loạt các cd, các bản thâu âm của Phương Dung ra đời, trong số đó là Hương quê, Sơn ca,… với các ca khúc Con đường xưa em đi, Biết đâu tìm, Sắc màu hoa tím…cùng các liên khúc nổi tiếng Tạ từ trong đêm, Rừng chưa thay lá…

tiếng hát Phương Dung
Khúc hát Phương Dung

Hiện nay, Phương Dung đã về nước. Bà đã đem tiếng hát của mình để phục vụ cho quê hương, bà vận động các ca sĩ nổi tiếng tổ chức những show diễn để quyên góp tiền bạc giúp đỡ những mảnh đời khó khăn bất hạnh… Ở Phương Dung chúng ta thấy một ca sĩ vừa có tài vừa có tâm. Bà là một ca sĩ đáng để cho thế hệ ca sĩ trẻ Việt Nam noi gương và học tập.

 

 

Tiếng hát ca sĩ Hoàng Oanh

Hoàng Oanh là một trong mười nữ ca sĩ có ảnh hưởng tới nền âm nhạc Việt Nam trước năm 1975. Bà là một trong những ca sĩ trụ cột của trung tâm Asia tại hải ngoại.

Hoàng Oanh là tên nghệ danh của Huỳnh Kim Chi, bà sinh năm 1946 trong một gia đình có cha làm nghệ sĩ, quê bà ở Mỹ Tho nhưng bà lớn lên ở Sài Gòn. Thuở nhỏ, khi mới chỉ học tiểu học bà  được cha mình dạy hát và đã tham gia trình diễn trên các sân khấu. Hương lúa miền Nam Có một đàn chim là hai bản nhạc đầu tiên mà Hoàng Oanh hát khi mới chỉ 8 tuổi.

Năm 11 tuổi Hoàng Oanh theo học trường Nữ trung học Gia Long ở Sài Gòn, ngoài thời gian lên lớp, bà vẫn đi thu âm và biểu diễn ở khắp nơi trong Sài Gòn, nên bà được nhiều người biết tới. Bà được nhà văn Lê Thanh Thái tặng hai câu thơ: Vượt núi tiếng hò ra xứ HuếOanh vàng dìu dặt gợn dòng Hương…” . Ở Hoàng Oanh có điểm đặc biệt là thường ngâm thơ trước khi hát, điều đó tạo nên sự khác biệt so với với các ca sĩ lúc đó. Tạo nên nét đặc trưng trong phong cách hát của bà. Với sự nổi tiếng của mình,

ca sĩ Hoàng Oanh trước năm 1975
ca sĩ Hoàng Oanh trước năm 1975

Hoàng Oanh được mời hát ở Đại nhạc hội ở Huế. Sau khi tốt nghiệp bằng cử nhân Văn ở Đại học văn khoa Sài Gòn, Hoàng Oanh tạm gác ước mơ dạy học để theo con đường ca hát chuyên nghiệp. Bà xuất hiện nhiều trên đài phát thanh truyền hình thời bấy giờ. Bà kết hợp với nam danh ca Nhật Trường – một trong bốn ca sĩ nổi tiếng nhất thời điểm đó.

Trước năm 1975, hàng loạt các ca khúc nhạc vàng thời bấy giờ đã được Hoàng Oanh thể hiện: Rừng xưa, Chuyện tình Lan và Điệp, Ngọn đèn đêm, Nửa đêm biên giới… là các bài hát  nằm trong album Tiếng hát Hoàng Oanh 2 của bà .Đặc biệt, trong sự nghiệp trình diễn của mình, Hoàng Oanh không trình diễn tại các vũ trường, phòng trà mà bà chỉ thi thoảng hát ở các đại nhạc hội.

ca sĩ Hoàng Oanh thường ngâm thơ trước khi hát
ca sĩ Hoàng Oanh thường ngâm thơ trước khi hát

Sau năm 1975, Hoàng Oanh sang Mĩ định cư, bà thường xuyên xuất hiện trong các trung tâm âm nhạc lớn và là ca sĩ trụ cột cho trung tâm Asia, trung tâm Thúy Nga. Bà được yêu mến từ khán giả với những bài hát về xứ Huế và những bài mang đậm chất quê hương: Tình ca quê hương, Thương về xứ Huế, Lòng mẹ,

(Nguồn Wiki)

Phương Hồng Quế, tiếng hát trẻ trung được ưa thích trước 1975

Trước năm 1975, ở Sài Gòn có một nữ ca sĩ trẻ được mọi người yêu thích với tiếng hát trẻ trung đó là Phương Hồng Quế. Người được khán thính giả hồi đó tặng cho biệt danh Ti Vi Chi Bảo.

Phương Hồng Quế sinh năm 1953 tại Sài Gòn trong một gia đình trung lưu. Nữ ca sĩ yêu thích ca hát từ khi còn nhỏ, cô có thể hát trong bất cứ hoàn cảnh nào, ở mọi thời điểm. Năm 10 tuổi Phương Hồng Quế đã được theo học nhạc với nhạc sĩ Nguyễn Đức, một nhạc sĩ nổi tiếng thời bấy giờ. Trong quá trình luyện tập giọng hát, Phương Hồng Quế đã thử  hát và biểu diễn ở các chương trình, sự kiện nhỏ. Đến năm 1968, khán giả truyền hình bắt đầu biết tới cái tên Phương Hồng Quế qua ca khúc Một người đi của nhạc sĩ Mai Châu.

ca sĩ Phương Hồng Quế trước năm 1975
ca sĩ Phương Hồng Quế trước năm 1975

Thời kì trước năm 1975, chủ đề về người lính là chủ đề thường được quan tâm ở dòng nhạc vàng thời bấy giờ. Giờ này anh ở đâu, Vườn tao ngộ…là một trong số đó. Khi đó ở Sài Gòn người ta thường thấy hình ảnh Phương Hồng Quế hay góp mặt trong những Đại nhạc hội, những vũ trường với các bài hát nổi tiếng: Nếu em là giai nhân, Chuyến đi về sáng, Sương phủ đường khuya… Cô cũng hát phục vụ người lính, những bài hát với giọng hát của Phương Hồng Quế thể hiện được cái khí chất, sự dũng cảm của những chiến sĩ nơi xa trường với những bài hát: Giờ này anh ở đâu, Dục Mỹ hay Lam Sơn, Quang Trung nắng cháy da người, … . Vì vậy, những người lính xem Phương Hồng Quế như một thần tượng, một ca sĩ duy nhất trong lòng họ.

Phương Hồng Quế với cd Đàn ông

Sau năm 1975, Phương Hồng Quế ít được hát vì nhạc vàng bị cấm ở Việt Nam, có lần trong một chương trình bà bị bắt phải đổi tên để được hát nhưng bà không thể hát được bởi vị cái tên Phương Hồng Quế đã gắn liền với giọng hát của bà mất rồi. Năm 1991 bà được sang định cư ở Hoa Kì.

ca sĩ Giang Tử song ca cùng Phương Hồng Quế với ca khúc Căn nhà màu tím
ca sĩ Giang Tử song ca cùng Phương Hồng Quế với ca khúc Căn nhà màu tím

Vốn biết tiếng tăm của Phương Hồng Quế từ trước, sau khi thử giọng bà trung tâm Thúy Nga đã mời bà về hát, bà đã hát bài Chiều cuối tuần trên băng đĩa Thúy Nga 16, rồi bà xuất hiện trên băng hình Asia 2 với ca khúc Phố đêm. Bà nhiều lần song ca với các ca sĩ nổi tiếng, trong số đó là ca sĩ Duy Khánh, Giang Tử, Tuấn Vũ…Trong những lần lưu diễn ở các nơi tại hải ngoại, những bài về người lính là những gì Phương Hồng Quế muốn thể hiện.

 

Như Quỳnh – giọng ca vàng của dòng nhạc sến

Như Quỳnh là nữ ca sĩ được rất nhiều người hâm mộ bởi giọng hát ngọt ngào và ngoại hình xinh đẹp. Nói rằng Như Quỳnh tài sắc vẹn toàn để thấy được sự ưu ái của mọi người dành cho cô.

Như Quỳnh sinh năm 1970 ở Huế, quê nội ở Quảng Trị. Tên thật của Như Quỳnh là  Lê Lâm Quỳnh Như. Khi sinh ra cô hay bị bệnh nên sức khỏe yếu. Không có điều kiện học nhạc từ bé vì nhà nghèo nhưng có tấm lòng thương mến trẻ thơ, Như Quỳnh đã tham gia cộng tác với nhà văn hóa thiếu  nhi để tập múa và hát cho các em nhỏ đồng thời cô cũng tự luyện tập giọng hát của mình. Và trong một lần tham dự cuộc thi cuộc thi Tiếng hát Truyền hình được tổ chức lần đầu tiên tại Sài Gòn năm 1991, Như Quỳnh gây bất ngờ với điểm số tuyệt đối, điều mà từ xưa tới ngày nay chưa có ai đạt được.

Kể từ khi đạt giải trong cuộc thi đó, Như Quỳnh được nhiều người biết tới nhưng cho đến năm 1993 cô theo gia đình sang Mĩ nhập cư thì năm 1994 do biết tiếng tăm của Như Quỳnh thì trung tâm ca nhạc Asia đã mời cô sang thử giong và lập tức kí hợp đồng. Nhạc phẩm Chuyện hoa sim là ca khúc đầu tiên  Quỳnh hát ở đây.

Như Quỳnh với ca khúc Người tình mùa đông
Như Quỳnh với ca khúc Người tình mùa đông

Hai năm sau, kể từ năm 1996 Như Quỳnh chuyển sang hát cho trung tâm Thúy Nga với cuốn Paris By Night đầu tiên  Paris By Night 38 cô hát bài Hoa tím người xưa của cố nhạc sĩ Thanh Sơn đã để lại ấn tượng sâu đậm trong khán thính giả nghe nhạc ở hải ngoại. Những bài hát hay nhất của Như Quỳnh là: Người tình mùa đông, Lá diêu bông… Ngoài ra cô còn song ca với Trường Vũ, Mạnh Quỳnh. Có thể nói cặp đôi Như Quỳnh và Trường Vũ với các ca khúc: Thề non hẹn biển, Nhớ người yêu, LK con đường xưa em đi, Đính ước,… là một trong những cặp đôi hát hay nhất từ trước tới nay của dòng nhạc vàng.

Như Quỳnh và Trường Vũ
Như Quỳnh và Trường Vũ

 

Phi Nhung – giọng ca vàng của nhạc sến Việt

Trong số những ca sĩ nữ của dòng nhạc vàng Việt Nam có rất nhiều ca sĩ nổi tiếng. Trong đó có Phi Nhung, một giọng ca vàng của nhạc sến hiện đại.

Ca sĩ Phi Nhung sinh năm 1972 tại Pleiku, cô là con lai, mang trong mình 2 dòng máu Việt – Mĩ. Từ nhỏ, sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng lúc nào Phi Nhung cũng nghe cải lương và dân ca từ đó cô sớm yêu thích dòng nhạc trữ tình.

Người ta nói Phi Nhung là nữ ca sĩ đầy truân chuyên quả không sai. Năm 11 tuổi cô đã mồ côi mẹ, về sống với ngoại, một mình cô phải kiếm tiền nuôi 5 đứa em nhỏ cùng mẹ khác cha của mình. Có lẽ vì thế mà chúng ta thấy ở Phi Nhung một con người chăm chỉ chịu thương chịu khó, tính cách góp phần làm nên giọng hát của Phi Nhung sau này.

Vào năm 1989 Phi Nhung được sang Mĩ theo diện con lai. Tại đây, Phi Nhung bắt đầu hát, cô gặp Trizzie Phương Trinh – vợ ca sĩ Bằng Kiều, một ca sĩ hải ngoại nổi tiếng bấy giờ trong một buổi biểu diễn từ thiện đã động viên Phi Nhung theo con đường ca hát. Nhưng mãi tới năm 1993 cô mới bắt đầu theo đuổi sự nghiệp âm nhạc của mình. Sau khi song ca cùng ca sĩ Thái Châu với ca khúc  Sông quê 1, Phi Nhung bắt đầu được mọi người  biết đến. Cô may mắn có một CD đầu tay của mình với nam danh ca nhạc sến nổi tiếng nhất thời bấy giờ là Tuấn Vũ, cùng với ca sĩ nữ Mỹ Huyền của trung tâm Asia.

ca sĩ Phi Nhung thời còn trẻ
ca sĩ Phi Nhung thời còn trẻ

Tuy vậy, con đường âm nhac của Phi Nhung không phải từ đó mà bằng phẳng, dễ dàng. Cô phải chăm chỉ luyện tập, miệt mài học nhạc, kiên trì xin vào những trung tâm âm nhạc với mục đích để luyện tập và không ít lần bị từ chối. Dần dần Phi Nhung đã tạo cho mình được hình ảnh của một cô gái với giọng hát cao hơi khàn nhưng ấm và trong trẻo vô cùng. Tiếng hát của cô đã đem đến cho người nghe những cung bậc của cảm xúc, những tâm trạng, hình ảnh con người với những trắc trở bể dâu với những ca khúc: Tâm sự đời tôi, Đời không như là mơ, …. 

Phi Nhung và Mạnh Quỳnh là cặp đôi ăn ý trên sân khấu
Phi Nhung và Mạnh Quỳnh là cặp đôi ăn ý trên sân khấu

Ngoài ra Phi Nhung còn là một giọng ca Tân cổ nổi tiếng, các bài tân cổ song ca cùng với nam ca sĩ Mạnh Quỳnh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng mọi người : Căn nhà màu tím, Đoạn cuối tình yêu, Phận gái thuyền quyên, Hai đứa giận nhau… Phi Nhung được nhiều trung tâm ca nhạc hải ngoại mời biểu diễn, cô luôn bận rộn với công việc, cô tham gia nhiều chương trình ca nhạc trong nước và quốc tế. Từ khi ca hát tới giờ, Phi Nhung đã cho ra hàng trăm album của riêng mình, số lượng album của cô nhiều nhất trong giới ca sĩ cùng thời, vì vậy cô được đặt biệt danh là Nữ hoàng băng đĩa Phi Nhung.

Tân cổ giao duyên Phi Nhung Mạnh Quỳnh
Tân cổ giao duyên Phi Nhung Mạnh Quỳnh

Từ năm 2005, Phi Nhung được cấp phép biểu diễn ở Việt Nam, vì vậy cô đã tham gia vào rất nhiều chương trình âm nhạc, cô cũng thử sức với hài kịch, diễn viên và cũng được nhiều người mến mộ. Mọi người hâm mộ Phi Nhung không chỉ giọng hát mà còn ở tình cảm, lòng yêu thương con người. Phi Nhung là một ca sĩ làm từ thiên nhiều nhất ở Việt Nam, cô luôn quan tâm tới những con người bất hạnh, những đứa trẻ mồ côi… bởi cô đã từng rơi vào hoàn cảnh ấy nên cô hiểu được nỗi bất hạnh của họ. Phi Nhung đã hết lòng cưu mang họ bằng tiếng hát cũng như của cải vật chất của chính mình.

Phi Nhung làm giám khảo cuộc thi solo cùng Bolero trên truyền hình
Phi Nhung làm giám khảo cuộc thi solo cùng Bolero trên truyền hình

 

Nữ hoàng nhạc vàng Thanh Tuyền – Dòng suối trong của Đà Lạt

Thanh Tuyền là một ca sĩ rất thành công với dòng nhạc vàng trước năm 75. Bà là một trong số ít những ca sĩ  còn được chỗ đứng trong dòng nhạc sến tới tận bây giờ.

Thanh Tuyền sinh năm 1949 ở Đà Lạt. Bà tên thật là Phạm Như Mai, từ khi còn nhỏ bà đã sớm bộc lộ năng khiếu ca hát. Nhờ một người cậu chỉ dẫn về thanh nhạc bà chăm chỉ luyện tập, rồi tham gia vào các buổi văn nghệ ở trường. Bà cũng tham gia vào các cuộc thi hát ở Đà Lạt, trong đó có cuộc thi Thần Đồng ca hát ở Đà Lạt vào năm 1959, Thanh Tuyền đạt giải nhất với ca khúc Nắng đẹp miền Nam. Kể từ khi đó, niềm yêu thích ca hát của bà càng lớn dần lên theo năm tháng.

Theo lời của Thanh Tuyền, sự nghiệp ca hát của bà gặp nhiều may mắn. Vào năm 1964 sau khi Thanh Tuyền về Sài Gòn học tiếp bậc trung học nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông chủ hãng đĩa Continental thời đó mời kí hợp đồng. Với giọng hát thiên phú của mình cộng với sự lăng xê của Nguyễn Văn Đông Thanh Tuyền càng ngày càng nổi tiếng và được nhiều người biết đến. Tên tuổi của bà gắn liền với những ca khúc: Đà Lạt Hoàng Hôn, Nỗi Buồn Hoa Phượng.

Ca sĩ Thanh Tuyền thời trẻ
Ca sĩ Thanh Tuyền

Tới năm đủ 18 tuổi thì Thanh Tuyền bắt đầu đặt chân vào các vũ trường lớn nhất Sài Gòn thời bấy giờ là vũ trường Tự Do, với chương trình Hoàng thi thơ ở vũ trương Maxim’s.

Thanh Tuyền Trường Thanh

Thời điểm trước năm 1967 -1968 những tác phẩm đơn ca trở nên nhàm chán, vì vậy kể từ khi Thanh Tuyền kết hợp song ca cùng với danh ca nhạc vàng nổi tiếng thời bấy giờ là Chế Linh, tên tuổi của bà lại càng thêm nổi tiếng. Ca khúc Hái trộm hoa rừng trong đĩa nhạc của cặp song ca nổi tiếng một thời được bán ra với số lượng khổng lồ.

Ca sĩ Chế Linh song ca cùng Thanh Tuyền
Ca sĩ Chế Linh song ca cùng Thanh Tuyền

Sau năm 1975 Thanh Tuyền sang Hoa Kì tiếp tục sự nghiệp ca hát của mình ở các trung tâm Asia, Thúy Nga với các ca khúc: Xin thời gian qua mau, LK Hai lối mộng, Chuyện chúng mình, Tàu đêm năm cũ,… Ngoài ra bà còn có một người bạn hát là Tuấn Vũ. Cặp song ca Tuấn Vũ – Thanh Tuyền cũng là một cặp song ca rất ăn ý. Những năm gần đây Thanh Tuyền có về nước làm từ thiện và biểu diễn một liveshow duy nhất năm 2012 ở Việt Nam, liveshow kỉ niệm 50 năm ca hát của bà.

Thanh Tuyền song ca cùng Tuấn Vũ
Thanh Tuyền song ca cùng Tuấn Vũ

 

(Nguồn Wiki)

 

Cùng tìm hiểu về cố ca nhạc sĩ Nhật Trường

Nhật Trường là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng nhất Việt Nam trước năm 1975. Ngoài ra ông còn là một ca sĩ nổi tiếng trong ” tứ trụ” của dòng nhạc vàng hồi đó.

Nhật Trường tên thật là Trần Thiện Thanh, ông sinh năm 1942 tại Bình Thuận. Năm 16 tuổi (1958) ông lên Sài Gòn  làm giáo viên trung học. Sau đó ông làm việc trong Đài phát thanh và truyền hình của chính quyền Sài Gòn thời bấy giờ dưới vị trí Trưởng ban văn nghệ của đài. Ngoài ra ông còn phụ trách thêm mảng phóng sự chiến trường.

Trong những năm thập niên 60 của thế kỉ trước, Nhật Trường thường xuyên hát cùng với ca sĩ Hùng Cường và ca sĩ Chế Linh. Họ mặc quân phục để lên sân khấu hát nhạc lính với những bài hát: Tâm sự người lính trẻ, Mưa chiều kỉ niệm,… Ngoài ra Nhật Cường còn sáng tác nhạc. Ai nói yêu em đêm nay, Anh không chết đâu em, Anh nhớ về thăm em, Bà mẹ Trị Thiên… là một trong số những bài hát mà Nhật Trường sáng tác trong thời kì đó.

Ca sĩ Nhật Trường thời còn trẻ
Ca sĩ Nhật Trường thời còn trẻ

Chủ đề sáng tác của Nhật Trường thường là tình yêu và người lính. Ông sáng tác nhiều về người lính nhưng trong đó chủ yếu là về tình yêu, trong đó không có thù hận, chỉ có tình cảm lứa đôi. Chuyện tình mộng thường là ca khúc nhạc vàng tiêu biểu cho phong cách sáng tác của nam ca sĩ tài năng này.

Nhật Trường với những khúc tình ca
Nhật Trường với những khúc tình ca

Sau năm 1975 Nhật Trường bị nhà nước cấm hoạt động một thời gian dài. Mãi tới năm 1993 khi đặt chân bên vùng trời hải ngoại. Tại Mĩ, ông đã thành lập hãng đĩa riêng của mình lấy tên là  Nhật Trường Productions. Ông cũng cộng tác với nhiều trung tâm ca nhạc lớn ở bên đó như Asia, Hoàn Mỹ, Làng Văn cho tới khi qua đời vào năm 2005 do bị ung thư phổi.

(Nguồn Wiki)

Hùng Cường – một ca sĩ, nghệ sĩ đầy tài năng

Điểm mặt những ca nghệ sĩ dòng nhạc sến nổi danh trước năm 1975, không thể không nhắc tới Hùng Cường, một trong những ca nghệ sĩ nổi tiếng từ rất sớm, từ thập niên 1950.

Hùng Cường có tên thật là Trần Kim Cường, ông sinh năm 1936 ở Hải Phòng và lớn lên ở Bến Tre. Từ khi còn nhỏ tuổi, ông đã sớm bộc lộ năng khiếu ca hát. Khi còn học tiểu học Hùng Cường đã bước lên sân khấu nhỏ với ca khúc Con chim hòa bình đau nặng của Lê Thương và đã được toàn thể thầy cô, phụ huynh và học sinh cả trường hoan nghênh.

Ca sĩ Hùng Cường thời trẻ
Ca sĩ Hùng Cường thời trẻ

Ban đầu, từ thập niên 1950 Hùng Cường là một nghệ sĩ cải lương, tân cổ, ông chủ yếu hát về nhạc tiền chiến: Ông lái đò, Vọng ngày xanh, Sơn Nữ ca, Đường xưa lối cũ, Chàng đi theo nước,… Ông nổi tiếng với giọng hát tenor cao vút và một thời tung hoành ở các vũ trường Kim Sơn, Baccara… Số lượng đĩa hát của ông được bán ra ở dạng kỉ lục thời kì đó.

Bước sang thập niên 60, như phù hợp với xu thế thời bấy giờ, chiến tranh Nam Bắc Việt Nam, Hùng Cường chuyển sang hát thể loại nhạc vàng – thứ nhạc phẩm được coi là kích động thời bấy giờ nhằm vào đời sống, sinh hoạt của những người lính trong quân ngũ. Đám cưới nhà binh, Hai trái tim vàng, Hờn trách… là những tác phẩm tươi vui đặc trưng cho phong cách hát của Hùng Cường thời điểm đó.

Hùng Cường và Bạch Tuyết
Hùng Cường và Bạch Tuyết

Vừa hát tân nhạc, Hùng Cường cũng hát thêm Kịch và Cải lương và là một nghệ sĩ thành công ở lĩnh vực này. Ông kết hợp với các diễn viên gạo cội thời bấy giờ là Ngọc Đán, Ngọc Giàu, Kim Nên, Hoàng Kinh, Thanh Sang, Kim Nguyên,… tạo nên những vở kịch bất hủ: Mộng đẹp đêm trăng, Tuyết phủ chiều đông, Màu tím đèn hoa giấy,… và những vở tuồng nổi tiếng cho tới tận ngày nay: Cho trọn cuộc tình, Lệnh của bà, Má hồng phận bạc… với các nghệ sĩ nổi tiếng Minh Phụng, Bạch Tuyết, Kim Ngọc, Hữu Phước, Văn Chung… Nhưng có lẽ vai diễn để đời của Hùng Cường là vai tướng cướp Bạch Hải Đường trong vở hát cùng tên. Và vai 1 người điên vì mất của, mất tình yêu trong vở  Yêu người điên.

Hùng Cường với vai diễn tướng cướp Bạch Hải Đường
Hùng Cường với vai diễn tướng cướp Bạch Hải Đường

Sau năm 1975, ông nhiều lần vượt biên và mãi tới năm 1980 Hùng Cường sang được Hoa Kì. Tại đây, ông tiếp tục sự nghiệp ca hát của mình trong những trung tâm ca nhạc hải ngoại với: Việt Nam yêu ơi, Mùa xuân Cali… cho tới khi qua đời vào năm 1996.

 

Cuộc đời và sự nghiệp ca hát của cố ca sĩ Giang Tử

Ai từng yêu mến dòng nhạc sến đều khó có thể không biết được cái tên Giang Tử. Ông là một trong những ca sĩ hát nhạc vàng nổi tiếng trước năm 75. Giọng hát của ông dễ đi sâu vào lòng người, ông được coi như một trong những huyền thoại của nền nhạc vàng nước nhà.

Giang Tử sinh ra ở Hải Phòng vào năm 1944. Tên thật của ông là Nguyễn Văn Giang. Sinh ra trong một gia đình thương gia, vì vậy khi từ nhỏ Giang Tử đã được theo học hát với nhạc sĩ Y Vân, về sau còn được ca sĩ Duy Trác chỉ dạy nên giọng hát của ông tiến bộ không ngừng.

cuộc đời ca sĩ Giang Tử

Mọi người biết tới cái tên Giang Tử vào đầu năm 1960 nhưng tên tuổi của ông thực sự nổi khắp cả nước với bài hát Căn nhà màu tím, ngoài ra còn những bài hát gắn liền với tên tuổi của ông là Cô hàng xóm, Nhật kí đời tôi,… Đến năm 1975 thì dòng nhạc vàng bị cấm trong nước. Tới năm 2010 Giang Tử cùng gia đình sang Mĩ định cư, tại đây ông tiếp tục ca hát để phục vụ đồng bào mình cho tới tận khi mất vào năm 2014.

(Theo Wiki)