Chuyên mục lưu trữ: Tiếng hát trước năm 1975

Thanh thúy, nữ hoàng của những giai điệu Bolero và Rumba

Trước năm 1975, nền Tân nhạc Việt Nam phát triển mạnh. Gắn liền với dòng nhạc sến, nhạc vàng thời kì đó là những giai điệu Bolero, Rumba. Thanh Thúy là một ca sĩ được coi là có chất giọng phù hợp nhất với những giai điệu đó. Bà được mệnh danh là Nữ hoàng của những giai điệu Bolero và Rumba.

Thanh Thúy sinh năm 1943. Nguyễn Thị Thanh Thúy sinh ra tại Thừa Thiên Huế trong một gia đình có năm chị em. Thuở nhỏ, Thanh Thúy đã mê ca hát, bà thường nghe băng đĩa nhạc rồi tự tập hát một mình. Cô thường hát cho đám bạn nghe, rồi hát trong câu lạc bộ văn nghệ của thôn xóm. Tới năm 15 tuổi, Thanh Thúy cùng gia đình chuyển vào Sài Gòn, do mẹ bị bệnh nan y, nhà lại đông con, Thanh Thúy là chị cả phải tìm việc để kiếm tiền phụ giúp cho cha. Vì vậy, cô bắt đầu đi hát và nhanh chóng được mọi người biết đến với các ca khúc nhạc sến đang nổi tiếng thời bấy giờ: Tình đời, Xa vắngĐêm tâm sự….

Tiếng hát Thanh Thúy - Trúc Phương
Tiếng hát Thanh Thúy – Trúc Phương

Với chất giọng trầm ấm hơi khàn, cách luyến láy phát âm từng câu chữ. Bà cũng có lợi thế là có dáng mảnh mai nên thường mặc áo dài khi đi hát. Mái tóc dài trên đôi vai gầy của người con gái Huế đã chiếm được tình cảm của biết bao người nghe nhạc trong cả nước ở thời kì đó. Nổi tiếng nên Thanh Thúy được mời hát ở các phòng trà, chương trình ca nhạc, đại nhạc hội… rồi tiếng hát ấy đã ngự trị trên đài phát thanh và truyền hình miền Nam Việt Nam suốt một thời gian dài trước năm 1975.

Tuy rất nổi tiếng nhưng Thanh Thúy vẫn sống một cuộc sống giản dị. Có thể do cô mộ đạo từ bé. Cô kể, hồi nhỏ vẫn thường cùng mẹ và bà ngoại lên chùa làm công quả và tụng kinh niệm phật với pháp danh Sumana. Khi bước chân vào con đường ca hát, lo sợ con mình sẽ bị cám dỗ bởi sự xa hoa, sự nổi tiếng ăn chơi của giới ca nghệ sĩ nên mẹ của nữ ca sĩ vẫn thường hay tựa cửa chờ con về mỗi tối.

ca sĩ Thanh Thúy trước năm 1975
Hình ảnh hoa hậu nghệ sĩ Thanh Thúy

Với lòng yêu thương cha mẹ vô bờ bến, nhất là mẹ, người mà quan tâm lo lắng rất nhiều cho Thanh Thúy. Vì vậy, sau khi mẹ mình qua đời vào năm 1960, người ta nghe thấy trong tiếng hát của cô những u sầu, não nùng, một tâm trạng buồn đau vì thương nhớ mẹ. Trong giai đoạn này, Thanh Thúy càng nổi tiếng hơn, hình ảnh của cô đã được đưa vào cuốn phim Thúy đã đi rồi của đạo diễn Nguyễn Long vào năm 1961. Sau cuốn phim này Thanh Thúy đã được giới văn nghệ sĩ Sài Gòn bình chọn là Hoa hậu nghệ sĩ, một cô gái Huế đẹp mà có giọng ca hay. Cô chiếm được tình cảm của biết bao nghệ sĩ, trong đó có Trúc Phương, một nhạc sĩ nổi tiếng. Ông kể, Thanh Thúy là nguồn cảm hứng của ông khi viết một loạt các tuyệt phẩm Chuyện chúng mình, Hai lối mộng, Buồn trong kỉ niệm

Băng nhạc Thanh Thúy
Băng nhạc Thanh Thúy trước năm 1975

Năm 1964, Thanh Thúy kết hôn với trung tá không quân của Việt Nam cộng hòa là tài tử Ôn Văn Tài. Hai người được mọi người yêu mến gọi là đôi Kim Đồng – Ngọc Nữ của giới văn nghệ sĩ. Trong năm này, Thanh Thúy một lần nữa khắc sâu trong lòng người hâm mộ cô với ca khúc nhạc sến nổi tiếng Chuyến tàu hoàng hôn.

Sau khi lập gia đình, Thanh Thúy ít đi hát hơn để chăm lo cho gia đình nhỏ của mình, hình ảnh của cô vắng bóng trên các chương trình ca nhạc. Cho tới năm 1970, Thanh Thúy trở lại với người hâm mộ bởi hai ca khúc nổi tiếng Tình đờiDuyên kiếp cầm ca, đây là hai ca khúc mà nhạc sĩ Minh Kỳ và Vũ Chương viết dành tặng riêng cô nhân dịp Thanh Thúy trở lại nghiệp cầm ca sau vài năm vắng bóng.

Sau đó, Thanh Thúy lần lượt cho ra nhiều album, tất cả các album khi phát hành đều bán rất chạy. Các nhạc sĩ, rồi cả nhà thơ ở thời kì đó đều muốn viết dành tặng cho Thanh Thúy. Từ  Trúc Phương,Y Vân, Anh Bắng, Tôn Thất Lập tới Trịnh Công Sơn, tất cả đều ưu ái dành tặng cho cô những ca từ hay nhất.

Thanh Thúy ở hải ngoại
Những bài hát hay nhất của ca sĩ Thanh Thúy

Sau biến cố xảy ra năm 1975, Thanh Thúy cùng chồng sang Hoa Kì định cư. Cô tiếp tục đi hát phục vụ đồng bào xa quê hương và thường xuyên xuất hiện trên các chương trình ca nhạc hải ngoại.

(Theo Wiki)

nhạc sĩ Trúc Phương, ông hoàng của dòng nhạc Bolero

Trúc Phương là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng của dòng nhạc sến Việt Nam. Ông đã sáng tác rất nhiều ca khúc nổi tiếng, những sáng tác của ông được mọi người vô cùng yêu thích.

Trúc Phương là nghệ danh của Nguyễn Thiên Lộc, ông sinh năm 1933 tại Trà Vinh. Thuở nhỏ do gia cảnh nghèo khó ông không được đi học đàng hoàng. Nhưng ông có niềm đam mê âm nhạc từ bé, vì vậy Trúc Phương mày mò rồi tự học guitar và tập tễnh sáng tác. Lúc mới bắt đầu sáng tác nhạc, ông lấy nghệ danh của mình là Trúc Phương, ông giải thích: vì quê hương ông hồi đó có nhiều rặng trúc bao quanh nên ông lấy tên là Trúc Phương để cho lòng mình luôn nhớ về quê hương.

nhạc sĩ trúc phương qua lời kể của Trần quốc bảo
nhạc sĩ Trúc Phương qua lời kể của Trần Quốc Bảo

 

Ông tham gia sinh hoạt văn nghệ ở quê hương một thời gian rồi lên Sài Gòn học nhạc. Ban đầu ông học nhạc ở nhạc sĩ Trịnh Hưng, trong lớp học nhạc của ông hồi đó có các ca sĩ nổi tiếng là Thanh Thúy và Ánh Tuyết. Vừa học nhạc, Trúc Phương vừa sáng tác. Năm 1957, những sáng tác đầu tay:Tình thương mái lá, Tình thắm duyên quê ra đời, mọi người mới bắt đầu biết đến ông.

Tiếp theo là những bài hát Chiều làng emĐò chiều… Và đăch biệt là bài Tàu đêm năm cũ mà Trúc Phương viết dành tặng cho những người chiến sĩ những năm đầu thập niên 1960. Bài hát là cảm xúc của những người chiến sĩ phải đi xa, xa gia đình, xa người thân. Cũng là tâm tư của người nhạc sĩ về một đất nước đang trong thời chiến.

nhạc sĩ trúc phương
Nhạc sĩ Trúc Phương

Sau biến cố xảy ra năm 1975, nhạc sĩ Trúc Phương nhiều lần vượt biên nhưng không thành công, ông phải vào tù, cuộc sống của ông lúc này gặp nhiều khó khăn, vợ con li tán… Ông tiếp tục sáng tác nhạc, tuy vậy, các bài hát đều không được thành công như trước kia. Ông tâm sự, ông không còn cảm hứng dạt dào như trước năm 1975 nữa.

Các ca khúc của Trúc Phương được đón nhận ở khắp các nơi trong nước và cả bên hải ngoại. Có hai ca sĩ trình bày thành công những bài hát của Trúc Phương đó là ca sĩ Chế Linh và ca sĩ Đan Nguyên. Các ca khúc Kẻ ở miền xaNửa đêm ngoài phố, Thói đời, Buồn trong kỷ niệm, Hai lối mộng, … là những bài hát tiêu biểu cho sáng tác của Trúc Phương sau năm 1975. Trước khi mất vào năm 1995, Trúc Phương đã sáng tác bài Xin cám ơn đời như muốn gửi gắm tâm tình của mình vào đó.

kẻ ở miền xa - Trúc Phương
Kẻ ở miền xa – Trúc Phương

Vinh sử – người được mệnh danh là ông vua nhạc sến Việt Nam

Có một người bạn nói với tôi rằng, ông Vua nhạc sến Việt Nam là nhạc sĩ Vinh Sử. Tôi không tin bởi tôi chỉ nghĩ ông ta chỉ là một nhạc sĩ sáng tác nhạc mà thôi. Vì vậy tôi đã đi tìm hiểu về nhạc sĩ này để xem cái danh hiệu dành cho ông có đúng không.

Vinh Sử quê gốc ở tỉnh Hà Tây – Việt Nam (bây giờ tỉnh này đã sát nhập vào thành phố Hà Nội). Những năm 1940 cha mẹ Vinh Sử đi theo đám đồn điền cao su vào tận miền Đông Nam Bộ, sau đó thì tới làm ăn ở Sài Gòn. Năm 1944, tại đây, cha mẹ sinh ra và đặt tên ông là Bùi Vinh Sử . Do gia đình là nghề bún, gắn liền với cuộc sống bình dị nơi dân dã, nên nó đã ảnh hưởng tới các tác phẩm nhạc sến của ông sau này.

ông Vua nhạc sến Việt Vinh Sử
ông Vua nhạc sến Việt Vinh Sử thời còn trẻ

Gia đình Vinh Sử sống trong một xóm nghèo, ông có 3 người em. Từ nhỏ anh em Vinh Sử đã phải lao động, tự kiếm sống. Trong mấy anh em thì chỉ có Vinh Sử được đi học, thế nhưng tới năm 15 tuổi, do yêu thích nhạc sến từ bé. Ông Vua nhạc sến Việt đã bắt đầu sáng tác nhạc. Vinh Sử vốn có bản tính ngông và ương ngạnh, cha mẹ và mọi người hoài nghi khả năng của ông. Hàng xóm thì không tin ông biết viết nhạc, bởi vì cha mẹ ông đâu có biết chữ, họ còn nói ông đi ăn cắp nhạc của ai đó chứ sáng tác sao được.

Sự nghiệp sáng tác nhạc của ông Vua nhạc sến Việt không bước đầu khá thuận lợi. Với bản năng trời phú, cộng thêm sự miệt mài học nhạc, ban đầu Vinh Sử mua sách để học nhạc, sau đó ông vừa kết hợp sáng tác. Các tác phẩm ban đầu của ông đa số viết về sự chia ly, những mất mát của tình yêu đôi lứa: Yêu người chung váchĐêm lang thang, Nước mắt người vu quy,…

ông vua nhạc sến việt Vinh Sử

Giống như nhiều nhạc sĩ tự lập, sáng tác được nhiều bài hát nhưng làm thế nào để đưa được tới người nghe không phải dễ dàng gì. Sau khi sáng tác được một số bài hát, Ông Vua nhạc sến Việt Vinh Sử đã phải ăn trộm tiền của cha mẹ, rồi bán căn nhà mà cha mẹ cho để lấy tiền quan hệ với giới nghệ sĩ, nhà đài nổi tiếng thời bấy giờ. Trong thời gian này, Vinh Sử quen nam danh ca nổi tiếng Chế Linh. Ông đã nhờ Chế Linh thâu bài Yêu người chung vách. Sau khi phát hành bài hát này, khắp nơi trong Sài Gòn đều tấm tắc khen hay, từ đó mọi người biết tới Vinh Sử ngày một nhiều hơn.

Những bài hát từ khi mới tập tành sáng tác: Gái nhà nghèo, Hai bàn tay trắngNhẫn cỏ cho em… của Vinh Sử bắt đầu được mọi người đón nhận bởi sự bình dị, gần gũi trong từng câu chữ trong mỗi bài hát. Dần dần Vinh Sử được mệnh danh là ông Vua nhạc sến Việt. Thời đó, các sáng tác của ông được mua bản quyền với giá cao, Vinh Sử có rất nhiều tiền. Tuy vậy, ông lại đổ vào những cuộc vui chơi thâu đêm suốt sáng.

Ông Vua nhạc sến Việt
Về già nhạc sĩ Vinh Sử phải sống trong cô đơn

Ông Vua nhạc sến Việt từng có bốn người vợ, nhưng tới khi về già ông lại sống trong cô đơn, cuộc sống khó khăn chật vật. Ông tâm sự, mỗi lần bị phụ tình hay gặp trở ngại trong cuộc sống thì ông lại sáng tác được nhiều bài hát hơn. Mỗi bài hát là nỗi niềm, tâm sự của ông, giúp ông trút bỏ được phần nào nỗi lòng của mình.

Tới thời điểm hiện tại gia tài của ông Vua nhạc sến Việt Vinh Sử có khoảng hơn hai trăm bài hát nhạc sến mà bài nào cũng được nhiều người yêu thích. Ông hiện sống trong căn nhà nhỏ ở Sài Gòn và vẫn tiếp tục sáng tác nhạc cho dù đã bước sang tuổi 72.

Nhạc vàng, nhạc sến và nhạc bolero

Khoảng những năm đầu thập niên 60 của thế kỉ trước. Ở Việt Nam xuất hiện dòng nhạc với những lời ca trữ tình bình dân được viết bằng những giai điệu chậm buồn đều đều mang âm hưởng dân ca. Dòng Tân nhạc Việt Nam ra đời từ đó. Vậy nhạc vàng, nhạc sến và nhạc bolero có liên quan gì tới dòng nhạc này. Vua nhạc sến sẽ cùng các bạn đi tìm hiểu.

Nhạc vàng là dòng nhạc được yêu thích ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Nhạc vàng thường có  lời ca giản dị, câu nhạc dễ nghe, mỗi câu mỗi chữ đều có ý nghĩa riêng, nó thường mang nỗi niềm của một bộ phận trong xã hội, những hoàn cảnh, mảnh đời éo le mà chủ yếu là những người nghèo, bình dân.

Ở miền Nam Việt Nam trước những năm 75 nhạc vàng rất thịnh hành. Mọi tầng lớp đều nghe nhạc vàng. Từ những quán cafe nhỏ tới những tụ điểm ca nhạc, vũ trường… và cả nơi tiền chiến. Hồi đó, cũng xuất hiện cụm từ nhạc sến, nhạc sến giai điệu cũng gần giống với nhạc vàng, đều hát chậm và đều đều, và nhạc sến được tầng lớp bình dân nghe nhiều hơn nhạc vàng. Thật ra thì không có sự phân biệt rõ rệt, chỉ phân biệt được bởi bằng tên gọi nhạc vàng và nhạc sến mà thôi.

các ca sĩ hát nhạc sến nổi tiếng
Các ca sĩ hát nhạc vàng nổi tiếng

Hiện nay ở Việt Nam người ta hay nói tới dòng nhạc Bolero. Một loạt các chương trình ca nhạc liên quan tới dòng nhạc này ra đời: Solo cùng Bolero, Thần tượng Bolero… Vậy dòng nhạc Bolero là gì? Bolero là tên gọi của điệu nhạc ở Mỹ la tinh, khi dòng Tân nhạc Việt Nam đang phát triển mạnh thì nó được du nhập về và được các nhạc sĩ thời đó sử dụng làm giai điệu của các bài hát nhạc vàng hay nhạc sến. Những đồi hoa sim(Dũng Chinh phổ thơ Hữu Loan), Tàu đêm năm cũ, Hoa sứ nhà nàng(Hoàng Phương), các nhạc sĩ Hoài Linh với Áo em chưa mặc một lần, Hàn Châu với Thành phố sau lưng… Vua Bolero – nhạc sĩ Trúc Phương với các bài hát Tàu đêm năm cũ, Nửa đêm ngoài phố… 

Điều ít ai biết về ca sĩ Hương Lan

Ca sĩ Hương Lan là một người nghệ sĩ đa tài, bà hát được các thể loại nhạc nổi tiếng ở Việt Nam là Cải lương, Vọng cổ, Nhạc vàng và Nhạc cổ truyền dân tộc.

Hương Lan tên thật là Trần Thị Ngọc Ánh. Bà sinh năm 1956 tại Sài Gòn trong một gia đình có cha là nghệ sĩ cải lương nổi tiếng ở miền Nam Việt Nam những năm 1960 – Hữu Phước. Có tố chất  cùng với sự hướng dẫn dạy dỗ từ người cha của mình nên khi mới chỉ lên 5, Hương Lan đã được đưa lên sân khấu diễn vở cải lương Thiếu phụ Nam Xương – một trong những vở được yêu thích nhất lúc bấy giờ.

ca sĩ Hương Lan trước năm 1975
ca sĩ Hương Lan trước năm 1975

Năm lên 10, Hương Lan bắt đầu theo nhạc sĩ Trúc Phương – một nhạc sĩ nhạc vàng nổi tiếng trước năm 1975. Bà bắt đầu học hát nhạc vàng. Và Hương Lan sớm được khán thính giả mến mộ sau khi thể hiện thành công ca khúc Ai ra xứ Huế của nhạc sĩ Duy Khánh. Bà nhận được nhiều sự chú ý bởi chất giọng ngọt ngào và thanh khiết. Ngày đó, trên khắp các mặt báo ở Sài Gòn đều có cái tên thần đồng Hương Lan. Ngoài những lúc đi hát, cô cũng tham gia các vở cải lương và tuồng cổ với người cha của mình trong đoàn Kim Chung – một trong những đoàn cải lương nổi tiếng nhất. Và vở tuồng Nắng thu về ngõ trúc là vở thành công nhất mà Hương Lan đã diễn.

tiếng hát Hương Lan

Sau năm 1975, Hương Lan sang Pháp, rồi sang Mĩ định cư. Bà tiếp tục hát phục vụ đồng bào hải ngoại. Với giọng hát bền bỉ, bà là ca sĩ trụ cột của trung tâm ca nhạc Thúy Nga. Bà thường xuyên xuất hiện trong chương trình Paris By Night với những bài hát quê hương như: Em đi trên cỏ non, Chiếc áo bà ba, Còn thương rau đắng mọc sau hè,…

ca sĩ Hương Lan

Hương Lan có một nguyện ước là được về hát phục vụ quê hương đất nước mình sao bao năm xa xứ. Cuối cùng bà cũng được về quê hương biểu diễn. Đó là liveshow Ơn đời một khúc dân ca mà ở đó bà đã thể hiện rất nhiều ca khúc sở trường của mình để phục vụ người yêu âm nhạc của dòng nhạc trữ tình quê hương.

Nhạn trắng Gò Công – ca sĩ Phương Dung

Là một trong những ca sĩ nữ nổi tiếng của dòng nhạc quê hương trong những năm 1960 – 1970 ở miền Nam Việt Nam. Phương Dung đã được người yêu nhạc vàng đặt cho danh hiệu Nhạn trắng Gò Công.

Năm 1946 nữ ca sĩ Phương Dung ra đời tại vùng đất Gò Công của tỉnh Tiền Giang. Cô tên thật là Phan Phương Dung. Sinh ra tại Tiền Giang nhưng Phương Dung sớm lên Sài Gòn học, cô học trường nữ sinh Gia Long, ngôi trường lớn nhất thời bấy giờ. Tại đây, bà vừa đi học, vừa tham gia vào các chương trình ca hát khi mới chỉ 11 tuổi.

Bước chân vào con đường ca hát từ khi còn rất nhỏ, cũng không sinh ra trong một gia đình nghệ sĩ, Phương Dung ý thức được rằng con đường ca hát của mình sẽ không được dễ dàng. Lần đầu tiên đạp xe đi nộp đơn dự thi một cuộc thi ca nhạc, lúc bấy giờ Phương Dung rất hồi hộp, ngày đó bà rất thần tượng nữ ca sĩ Thanh Thúy, nữ ca sĩ nổi tiếng nhất lúc đó. Và bà mong muốn được nổi tiếng như vậy.
ca sĩ Phương Dung với đĩa hát của mình Trong cuộc thi ca hát lần đầu tiên bà tham gia, tuy không được giải cao nhưng Phương Dung cũng may mắn nhận được lời mời đi hát ở một số tụ điểm ca nhạc. Sau khi hát bài Nỗi buồn gác trọ của nhạc sĩ Hoài Linh, bà trở lên nổi tiếng. Từ đó có rất nhiều phòng trà và vũ trường mời Phương Dung cộng tác. Các ca khúc Đố ai, Hoa nở về đêm, Những đồi hoa sim, Vọng gác đêm sương… là những ca khúc mà được hát nhiều ở các vũ trường thời điểm đó.

Theo lời Phương Dung chia sẻ, người đi xem bà hát nhiều lắm, thu nhập của bà lúc đó gấp 50 đến 60 lần lương của một giáo viên dạy cấp 2. Đi hát được nhiều tiền nhưng lúc nào Phương Dung cũng nghe lời cha mình dạy về 2 chữ Tài và Đức cần phải gắn liền với nhau. Và trong cuộc đời của mình, đến tận bây giờ vẫn còn có rất nhiều người hâm mộ và quý mến Phương Dung, điều đó chứng tỏ bà đã làm được điều cha mình dạy.

Sau năm 1975, Phương Dung có cộng tác với các trung tâm ca nhạc hải ngoại. Một loạt các cd, các bản thâu âm của Phương Dung ra đời, trong số đó là Hương quê, Sơn ca,… với các ca khúc Con đường xưa em đi, Biết đâu tìm, Sắc màu hoa tím…cùng các liên khúc nổi tiếng Tạ từ trong đêm, Rừng chưa thay lá…

tiếng hát Phương Dung
Khúc hát Phương Dung

Hiện nay, Phương Dung đã về nước. Bà đã đem tiếng hát của mình để phục vụ cho quê hương, bà vận động các ca sĩ nổi tiếng tổ chức những show diễn để quyên góp tiền bạc giúp đỡ những mảnh đời khó khăn bất hạnh… Ở Phương Dung chúng ta thấy một ca sĩ vừa có tài vừa có tâm. Bà là một ca sĩ đáng để cho thế hệ ca sĩ trẻ Việt Nam noi gương và học tập.

 

 

Tiếng hát ca sĩ Hoàng Oanh

Hoàng Oanh là một trong mười nữ ca sĩ có ảnh hưởng tới nền âm nhạc Việt Nam trước năm 1975. Bà là một trong những ca sĩ trụ cột của trung tâm Asia tại hải ngoại.

Hoàng Oanh là tên nghệ danh của Huỳnh Kim Chi, bà sinh năm 1946 trong một gia đình có cha làm nghệ sĩ, quê bà ở Mỹ Tho nhưng bà lớn lên ở Sài Gòn. Thuở nhỏ, khi mới chỉ học tiểu học bà  được cha mình dạy hát và đã tham gia trình diễn trên các sân khấu. Hương lúa miền Nam Có một đàn chim là hai bản nhạc đầu tiên mà Hoàng Oanh hát khi mới chỉ 8 tuổi.

Năm 11 tuổi Hoàng Oanh theo học trường Nữ trung học Gia Long ở Sài Gòn, ngoài thời gian lên lớp, bà vẫn đi thu âm và biểu diễn ở khắp nơi trong Sài Gòn, nên bà được nhiều người biết tới. Bà được nhà văn Lê Thanh Thái tặng hai câu thơ: Vượt núi tiếng hò ra xứ HuếOanh vàng dìu dặt gợn dòng Hương…” . Ở Hoàng Oanh có điểm đặc biệt là thường ngâm thơ trước khi hát, điều đó tạo nên sự khác biệt so với với các ca sĩ lúc đó. Tạo nên nét đặc trưng trong phong cách hát của bà. Với sự nổi tiếng của mình,

ca sĩ Hoàng Oanh trước năm 1975
ca sĩ Hoàng Oanh trước năm 1975

Hoàng Oanh được mời hát ở Đại nhạc hội ở Huế. Sau khi tốt nghiệp bằng cử nhân Văn ở Đại học văn khoa Sài Gòn, Hoàng Oanh tạm gác ước mơ dạy học để theo con đường ca hát chuyên nghiệp. Bà xuất hiện nhiều trên đài phát thanh truyền hình thời bấy giờ. Bà kết hợp với nam danh ca Nhật Trường – một trong bốn ca sĩ nổi tiếng nhất thời điểm đó.

Trước năm 1975, hàng loạt các ca khúc nhạc vàng thời bấy giờ đã được Hoàng Oanh thể hiện: Rừng xưa, Chuyện tình Lan và Điệp, Ngọn đèn đêm, Nửa đêm biên giới… là các bài hát  nằm trong album Tiếng hát Hoàng Oanh 2 của bà .Đặc biệt, trong sự nghiệp trình diễn của mình, Hoàng Oanh không trình diễn tại các vũ trường, phòng trà mà bà chỉ thi thoảng hát ở các đại nhạc hội.

ca sĩ Hoàng Oanh thường ngâm thơ trước khi hát
ca sĩ Hoàng Oanh thường ngâm thơ trước khi hát

Sau năm 1975, Hoàng Oanh sang Mĩ định cư, bà thường xuyên xuất hiện trong các trung tâm âm nhạc lớn và là ca sĩ trụ cột cho trung tâm Asia, trung tâm Thúy Nga. Bà được yêu mến từ khán giả với những bài hát về xứ Huế và những bài mang đậm chất quê hương: Tình ca quê hương, Thương về xứ Huế, Lòng mẹ,

(Nguồn Wiki)

Phương Hồng Quế, tiếng hát trẻ trung được ưa thích trước 1975

Trước năm 1975, ở Sài Gòn có một nữ ca sĩ trẻ được mọi người yêu thích với tiếng hát trẻ trung đó là Phương Hồng Quế. Người được khán thính giả hồi đó tặng cho biệt danh Ti Vi Chi Bảo.

Phương Hồng Quế sinh năm 1953 tại Sài Gòn trong một gia đình trung lưu. Nữ ca sĩ yêu thích ca hát từ khi còn nhỏ, cô có thể hát trong bất cứ hoàn cảnh nào, ở mọi thời điểm. Năm 10 tuổi Phương Hồng Quế đã được theo học nhạc với nhạc sĩ Nguyễn Đức, một nhạc sĩ nổi tiếng thời bấy giờ. Trong quá trình luyện tập giọng hát, Phương Hồng Quế đã thử  hát và biểu diễn ở các chương trình, sự kiện nhỏ. Đến năm 1968, khán giả truyền hình bắt đầu biết tới cái tên Phương Hồng Quế qua ca khúc Một người đi của nhạc sĩ Mai Châu.

ca sĩ Phương Hồng Quế trước năm 1975
ca sĩ Phương Hồng Quế trước năm 1975

Thời kì trước năm 1975, chủ đề về người lính là chủ đề thường được quan tâm ở dòng nhạc vàng thời bấy giờ. Giờ này anh ở đâu, Vườn tao ngộ…là một trong số đó. Khi đó ở Sài Gòn người ta thường thấy hình ảnh Phương Hồng Quế hay góp mặt trong những Đại nhạc hội, những vũ trường với các bài hát nổi tiếng: Nếu em là giai nhân, Chuyến đi về sáng, Sương phủ đường khuya… Cô cũng hát phục vụ người lính, những bài hát với giọng hát của Phương Hồng Quế thể hiện được cái khí chất, sự dũng cảm của những chiến sĩ nơi xa trường với những bài hát: Giờ này anh ở đâu, Dục Mỹ hay Lam Sơn, Quang Trung nắng cháy da người, … . Vì vậy, những người lính xem Phương Hồng Quế như một thần tượng, một ca sĩ duy nhất trong lòng họ.

Phương Hồng Quế với cd Đàn ông

Sau năm 1975, Phương Hồng Quế ít được hát vì nhạc vàng bị cấm ở Việt Nam, có lần trong một chương trình bà bị bắt phải đổi tên để được hát nhưng bà không thể hát được bởi vị cái tên Phương Hồng Quế đã gắn liền với giọng hát của bà mất rồi. Năm 1991 bà được sang định cư ở Hoa Kì.

ca sĩ Giang Tử song ca cùng Phương Hồng Quế với ca khúc Căn nhà màu tím
ca sĩ Giang Tử song ca cùng Phương Hồng Quế với ca khúc Căn nhà màu tím

Vốn biết tiếng tăm của Phương Hồng Quế từ trước, sau khi thử giọng bà trung tâm Thúy Nga đã mời bà về hát, bà đã hát bài Chiều cuối tuần trên băng đĩa Thúy Nga 16, rồi bà xuất hiện trên băng hình Asia 2 với ca khúc Phố đêm. Bà nhiều lần song ca với các ca sĩ nổi tiếng, trong số đó là ca sĩ Duy Khánh, Giang Tử, Tuấn Vũ…Trong những lần lưu diễn ở các nơi tại hải ngoại, những bài về người lính là những gì Phương Hồng Quế muốn thể hiện.

 

Nữ hoàng nhạc vàng Thanh Tuyền – Dòng suối trong của Đà Lạt

Thanh Tuyền là một ca sĩ rất thành công với dòng nhạc vàng trước năm 75. Bà là một trong số ít những ca sĩ  còn được chỗ đứng trong dòng nhạc sến tới tận bây giờ.

Thanh Tuyền sinh năm 1949 ở Đà Lạt. Bà tên thật là Phạm Như Mai, từ khi còn nhỏ bà đã sớm bộc lộ năng khiếu ca hát. Nhờ một người cậu chỉ dẫn về thanh nhạc bà chăm chỉ luyện tập, rồi tham gia vào các buổi văn nghệ ở trường. Bà cũng tham gia vào các cuộc thi hát ở Đà Lạt, trong đó có cuộc thi Thần Đồng ca hát ở Đà Lạt vào năm 1959, Thanh Tuyền đạt giải nhất với ca khúc Nắng đẹp miền Nam. Kể từ khi đó, niềm yêu thích ca hát của bà càng lớn dần lên theo năm tháng.

Theo lời của Thanh Tuyền, sự nghiệp ca hát của bà gặp nhiều may mắn. Vào năm 1964 sau khi Thanh Tuyền về Sài Gòn học tiếp bậc trung học nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông chủ hãng đĩa Continental thời đó mời kí hợp đồng. Với giọng hát thiên phú của mình cộng với sự lăng xê của Nguyễn Văn Đông Thanh Tuyền càng ngày càng nổi tiếng và được nhiều người biết đến. Tên tuổi của bà gắn liền với những ca khúc: Đà Lạt Hoàng Hôn, Nỗi Buồn Hoa Phượng.

Ca sĩ Thanh Tuyền thời trẻ
Ca sĩ Thanh Tuyền

Tới năm đủ 18 tuổi thì Thanh Tuyền bắt đầu đặt chân vào các vũ trường lớn nhất Sài Gòn thời bấy giờ là vũ trường Tự Do, với chương trình Hoàng thi thơ ở vũ trương Maxim’s.

Thanh Tuyền Trường Thanh

Thời điểm trước năm 1967 -1968 những tác phẩm đơn ca trở nên nhàm chán, vì vậy kể từ khi Thanh Tuyền kết hợp song ca cùng với danh ca nhạc vàng nổi tiếng thời bấy giờ là Chế Linh, tên tuổi của bà lại càng thêm nổi tiếng. Ca khúc Hái trộm hoa rừng trong đĩa nhạc của cặp song ca nổi tiếng một thời được bán ra với số lượng khổng lồ.

Ca sĩ Chế Linh song ca cùng Thanh Tuyền
Ca sĩ Chế Linh song ca cùng Thanh Tuyền

Sau năm 1975 Thanh Tuyền sang Hoa Kì tiếp tục sự nghiệp ca hát của mình ở các trung tâm Asia, Thúy Nga với các ca khúc: Xin thời gian qua mau, LK Hai lối mộng, Chuyện chúng mình, Tàu đêm năm cũ,… Ngoài ra bà còn có một người bạn hát là Tuấn Vũ. Cặp song ca Tuấn Vũ – Thanh Tuyền cũng là một cặp song ca rất ăn ý. Những năm gần đây Thanh Tuyền có về nước làm từ thiện và biểu diễn một liveshow duy nhất năm 2012 ở Việt Nam, liveshow kỉ niệm 50 năm ca hát của bà.

Thanh Tuyền song ca cùng Tuấn Vũ
Thanh Tuyền song ca cùng Tuấn Vũ

 

(Nguồn Wiki)

 

Cùng tìm hiểu về cố ca nhạc sĩ Nhật Trường

Nhật Trường là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng nhất Việt Nam trước năm 1975. Ngoài ra ông còn là một ca sĩ nổi tiếng trong ” tứ trụ” của dòng nhạc vàng hồi đó.

Nhật Trường tên thật là Trần Thiện Thanh, ông sinh năm 1942 tại Bình Thuận. Năm 16 tuổi (1958) ông lên Sài Gòn  làm giáo viên trung học. Sau đó ông làm việc trong Đài phát thanh và truyền hình của chính quyền Sài Gòn thời bấy giờ dưới vị trí Trưởng ban văn nghệ của đài. Ngoài ra ông còn phụ trách thêm mảng phóng sự chiến trường.

Trong những năm thập niên 60 của thế kỉ trước, Nhật Trường thường xuyên hát cùng với ca sĩ Hùng Cường và ca sĩ Chế Linh. Họ mặc quân phục để lên sân khấu hát nhạc lính với những bài hát: Tâm sự người lính trẻ, Mưa chiều kỉ niệm,… Ngoài ra Nhật Cường còn sáng tác nhạc. Ai nói yêu em đêm nay, Anh không chết đâu em, Anh nhớ về thăm em, Bà mẹ Trị Thiên… là một trong số những bài hát mà Nhật Trường sáng tác trong thời kì đó.

Ca sĩ Nhật Trường thời còn trẻ
Ca sĩ Nhật Trường thời còn trẻ

Chủ đề sáng tác của Nhật Trường thường là tình yêu và người lính. Ông sáng tác nhiều về người lính nhưng trong đó chủ yếu là về tình yêu, trong đó không có thù hận, chỉ có tình cảm lứa đôi. Chuyện tình mộng thường là ca khúc nhạc vàng tiêu biểu cho phong cách sáng tác của nam ca sĩ tài năng này.

Nhật Trường với những khúc tình ca
Nhật Trường với những khúc tình ca

Sau năm 1975 Nhật Trường bị nhà nước cấm hoạt động một thời gian dài. Mãi tới năm 1993 khi đặt chân bên vùng trời hải ngoại. Tại Mĩ, ông đã thành lập hãng đĩa riêng của mình lấy tên là  Nhật Trường Productions. Ông cũng cộng tác với nhiều trung tâm ca nhạc lớn ở bên đó như Asia, Hoàn Mỹ, Làng Văn cho tới khi qua đời vào năm 2005 do bị ung thư phổi.

(Nguồn Wiki)